Lò lu 150 năm tuổi
Những năm gần đây, nhiều lái buôn ở khắp các tỉnh thành tìm về lò lu Đại Hưng ở ấp 1, xã Tương Bình Hiệp để đặt hàng ngày càng nhiều, nhưng ông Tám Giang vẫn một mực giữ vững cách làm ăn của mình. Không chạy theo số lượng, không phá vỡ dây chuyền sản xuất. Ông cùng các nghệ nhân lành nghề của mình vẫn ngày đêm cặm cụi xay đất, đắp khuôn, nung hàng bằng củi trong những chiếc lò truyền thống. Ông Tám lý giải về việc làm của mình một cách chí lý: “Cải tổ dây chuyền sản xuất, làm ra những lọ hoa, bình gốm hiện đại để xuất khẩu cũng rất tốt. Nhưng theo tôi, người nghèo trong nước vẫn còn rất nhiều, họ vẫn cần những mặt hàng rẻ tiền để phục vụ đời sống hàng ngày, nhất là các tỉnh vùng sông nước. Hơn nữa đây là một nghề truyền thống của quê hương, mà nghề truyền thống thì không phải ở đâu cũng có, nghĩ thế nên tôi quyết gìn giữ mặc dù trước đây nó chưa phải là di tích”.
Theo lời ông Tám Giang thì lò lu Đại Hưng được xây dựng năm nào đến nay vẫn không có ai biết được chính xác. Qua lời truyền của các cụ cao niên, ông Tám Giang nhẩm tính lò lu đã tồn tại được khoảng 150 năm, trải qua 6 đời chủ. Ông chủ sáng lập nên lò lu này là một người Hoa, có tên là chú Ngâu, ông là người Quảng Đông- Trung Quốc. Khi đó, hàng làm ra chủ yếu là các loại lu, khạp, hũ… Đến khi ông Ngâu chết lò được sang lại cho ông Tư Ty ở Sài Gòn - Chợ Lớn. Khi ông Tư Ty chết, lò được sang lại cho một người Hoa khác có tên là Lầm, nghe đâu người quản lý lò cho ông Lầm cũng là một người Hoa. Vào thời ấy, nguyên liệu chính làm ra các sản phẩm lu, khạp, hũ… thường được lấy từ 3 - 4 loại đất như: đất đen, đất cát, đất lá bài và bùn dưới sông Sài Gòn trộn lẫn với nhau, cho vào hầm xay sẵn rồi đạp cho thật nhuyễn. Phương tiện vận chuyển chủ yếu là xe bò. Thành phẩm làm ra được các thương lái ở Sài Gòn mua lại rồi vận chuyển bằng ghe, cung cấp cho các tỉnh miền Tây Nam bộ và vùng phụ cận. Sau ngày đất nước thống nhất, lò được Hợp tác xã Tương Bình Hiệp tiếp nhận, nhưng do làm ăn thua lỗ nên đến năm 1989, UBND xã đồng ý cho ông Bùi Văn Giang thuê và quản lý lò, phát triển cho đến ngày nay.
Qua thời gian, một số hạng mục công trình ở lò lu bị hư hỏng như mái che, lò nung… nhưng bằng tấm lòng yêu nghề, ông Tám Giang đã không ngại bỏ tiền của, tìm nghệ nhân phục chế giống hệt hiện trạng ban đầu. Lò được xây dựng toàn bằng gạch sống (gạch chưa nung), phơi khô sau đó đem vào xây lò và được trét bằng đất sét. Sau một thời gian lò được nung, đất sét và gạch trở nên rất chắc chắn. Sở dĩ không dùng xi măng trét lò là vì nó sẽ bị cháy hoặc nổ trong quá trình đốt lâu dài. Nguyên liệu chủ đạo làm nên những chiếc lu, khạp ngày nay vẫn là đất sét, nhưng phải là loại đất có pha cát, sỏi, không phải đất dẻo. Để tìm ra loại đất này, ông Tám phải lên Dầu Tiếng hoặc về Tân Uyên tìm mua. Đất đem về phải được phơi ngoài trời một thời gian dài mới đưa vào xay. Vì khi để ngoài trời, dưới tác động của thời tiết mưa, nắng, làm cho chất phèn trong đất chảy ra ngoài, giúp sản phẩm rắn chắc hơn. Các khâu còn lại từ việc đổ khuôn, phủ men… tất cả đều làm thủ công. Ông Tám cũng đã sáng tạo ra khuôn đổ có hoa văn trang trí hình rồng, phụng trên sản phẩm nên nhìn vào rất bắt mắt. Nhờ đó mà lu Đại Hưng rất được thị trường Campuchia ưa chuộng.
Trở thành tỷ phú từ một lò lu thua lỗ
Nhìn từ bên ngoài thì lò lu Đại Hưng có vẻ xập xệ, nhưng có mấy ai biết được mỗi buổi sáng đi làm, ông chủ của nó ngồi trên xe hơi đời mới bóng lộn, tất cả đều nhờ lu. Ông Tám Giang nhớ lại: “Tôi đến tiếp quản lò năm 1989, lúc ấy tôi vừa tròn 40 tuổi. Thú thật là trước đó tôi chưa từng một ngày theo nghề gốm, tôi tiếp quản là muốn tiếp tục tạo việc làm cho nhiều người thân trong gia đình vì họ đã có nhiều năm làm việc ở đây”.
Tám Giang là con thứ 8 trong một gia đình có 10 anh em. Do con đông, nhà cũng chẳng khá giả gì nên học hết lớp 6 Tám Giang phải nghỉ học phụ mẹ buôn bán đó đây. Bố cùng các anh chị lớn thì vào lò lu Đại Hưng làm công nhân. Thuở nhỏ Tám Giang cũng thường lui tới nơi này chơi đùa cùng chúng bạn, nhưng lúc ấy trong đầu chú bé này chưa bao giờ dám nghĩ có ngày mình làm ông chủ ở đây. Sau ngày đất nước thống nhất, Tám Giang có thời gian vào công tác ở thị đội, làm Phó xã đội xã Hiệp Thành. Nhưng vì ngày ấy đồng lương của một cán bộ quá thấp, công việc buôn bán hàng rong của mẹ quá bấp bênh không đủ sống, Tám Giang xin từ chức để về làm kinh tế. Vốn có khiếu trong kinh doanh từ nhỏ, nên chỉ tìm hiểu sơ về việc đạp mía (mua mía về mướn lò chế biến thành đường rồi đem bán), là Tám Giang lập tức vào nghề. Từ những đồng tiền lẻ vay của mẹ, mượn thêm bạn bè, chẳng bao lâu Tám Giang trở thành người có tiếng trong lĩnh vực này. Không chỉ thu mua mía trong tỉnh, để có nguồn hàng, Tám Giang lên đến Tây nguyên, các tỉnh miền Trung để thu gom. Công việc làm ăn của Tám Giang càng thuận lợi hơn khi đầu năm 1983, ông cùng với mấy người bạn hùn vốn mua lại lò đường của ông U.Đ, một lò đường có tiếng ở Tân An để thành lập tổ hợp. Từ chỗ có vốn, năm 1986 ông tiếp tục đầu tư vào lò đường của Hợp tác xã Mỹ Hảo (xã Chánh Mỹ) và thành công ngoài mong đợi.
Năm 1989, khi về tiếp quản lò lu Đại Hưng, ông Tám đã gặp không ít khó khăn. Một bộ máy quản lý cồng kềnh, thợ lành nghề quá ít. Để làm ăn hiệu quả, ông đã mạnh dạn giảm bớt nhân công, tăng thợ giỏi. Nâng dần chất lượng sản phẩm rồi cho người mang hàng về tận miền Tây bán ký gởi. Chẳng bao lâu, lu Đại Hưng đã lấy lại được tiếng tăm. Từ chỗ tiếp quản một lò lu thua lỗ, nhưng do biết cách làm ăn nên chỉ vài năm sau ông Tám Giang đã có trong tay hàng tỷ đồng. Có tiền, ông tiếp tục đầu tư mở cây xăng, mua đất… nên bây giờ Tám Giang đã trở thành một đại gia có tiếng ở đất Tân An, Tương Bình Hiệp. Tuy hiện tại lò lu không mang lại lợi nhuận kinh tế cao như trước, nhưng ông Tám vẫn luôn là người có thủy có chung với nghề. Ông nói: “Sản nghiệp của tôi cũng nhờ lò lu mà nên. Tôi không chỉ bảo quản tốt mà sẽ tiếp tục tìm tòi nghiên cứu để làm ra nhiều sản phẩm đẹp hơn, nhằm gìn giữ được nét đặc trưng của nghề gốm Bình Dương”.
Gửi cho bạn bè |
Bookmark |
Phản hồi |
Định dạng in |
Comment |
| Đăng ký nhận thông tin miễn phí qua email | ||
![]() |
||
![]() |
Thiết kế website cho doanh nghiệp
Năm 2008 được dự đoán là năm bùng nổ quảng cáo trực tuyến tại Việt Nam. Quảng cáo trực tuyến luôn gắn liền với việc xây dựng website. Công ty bạn đã có website chưa? Website hoạt động có hiệu quả không? |
![]() |
Đặt tên thương hiệu
Bạn chuẩn bị thành lập công ty? Công ty bạn chuẩn bị tung ra thị trường một sản phẩm mới? Bạn đang đau đầu vì chưa tìm ra một cái tên vừa ý cho công ty hay sản phẩm mới của bạn? |
Theo dự đoán của các nhà chuyên môn, quảng cáo trực tuyến sẽ tiêu tốn 25 tỷ đôla tính đến năm 2011. Bạn đã bao giờ bị thuyết phục bởi một mẫu quảng cáo trực tuyến và bạn đã sử dụng dịch vụ của mẫu quảng cáo ?